SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
5
5
0
5
6
2
8
Giới thiệu 05 Tháng Mười Hai 2006 2:10:00 CH

Đình Bình Hoà

1. Tên gọi : ĐÌNH BÌNH HÒA

(Được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích Kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, quyết định số 43VH/QĐ ngày 07/01/1993)

2. Địa điểm: Số 15/77 Chu Văn An, phường 12, quận Bình Thạnh.

(Từ trung tâm hành chánh đi theo đường Nơ Trang Long đến ngã năm Bình Hòa, đi theo đường Chu Văn An 50 mét gặp trường Tiểu học Bình Hòa, quẹo trái là đến ).

3. Lịch sử hình thành:

Đình Bình Hòa được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ 19, trên gò đất cao, quay về hướng Đông. Bố cục mặt bằng của ngôi đình rất điển hình cho kiểu kiến trúc cổ ở thành phố Hồ Chí Minh thế kỷ 18 - 19.

Năm 1877: trùng tu lần đầu do ông Phó tổng Lê Văn Huệ tổ chức.

Năm 1924: trùng tu lần hai do ông Hương cả Lê Văn Ý tổ chức.

Đến nay 2001 đình đã năm lần được trùng tu, lần trùng tu lớn nhất vào năm 1998.

Năm 2000 dựng thêm bia ông Hổ phía trước và miếu Ngũ hành, miếu Thần nông ở hai bên cổng. Qua nhiều lần trùng tu nhưng đình vẫn giữ được những yếu tố cơ bản của ngôi đình cổ nam bộ.

4. Bài trí - kiến trúc:

Kiến trúc đình theo dạng hình chữ Đinh (J), mặt bằng kiến trúc chia thành hai trục chính song song với nhau, có trục chính và trục phụ.

Trục chính (từ ngoài vào) có tiền điện, trung điện và chính điện.

Trục phụ nằm bên trái gồm có nhà Túc, nhà kho, nhà bếp, giữa hai trục có khoảng trống gọi là sân Thiên tĩnh.

Cổng đình được xây theo kiểu Tam quan, có bia ông Hổ, hai bên là miếu Ngũ hành và miếu Thần nông. Sân đình rộng 17m x 25m lát gạch tàu.

Tiền điện hình chữ nhật, kiểu nhà 3 gian 2 chái. Tiền điện có ba cửa, mỗi cửa có 2 cánh bằng gỗ sơn son. Có 4 hàng cột đường kính khoảng 0,35m — 0,40m, cao 6m. Từ tiền điện nhìn vô trong có thể thấy hàng cột cao thẳng tắp, đen bóng. Tại tiền điện có đặt Long đình (dùng để rước sắc trong dịp lễ Kỳ yên). Long đình bằng gỗ sơn son thếp vàng, được làm như mái đình thu nhỏ.

Trên mái trung điện ở giữa được trang trí “Lưỡng long tranh châu”, hai bên là “Cá chép hóa long” bằng gốm tráng men. Mái trung điện có hai tầng, làm theo kiểu mái chồng diềm, đầu hồi bịt đốc. Trung điện dựng theo kiểu tứ tượng, các xà bằng gỗ, vì kèo kẻ chuyền. Phần mái cao có lấp những tấm kiếng màu thông thoáng tạo không gian rộng với ánh sáng tự nhiên.

Trung điện có 4 bàn thờ: phía ngoài là bàn nghi án, bên trong có 3 bàn thờ. Ở giữa là bàn thờ hội đồng ngoại, bên trái (từ trong ra) là bàn thờ Đông Hiến, bên phải là Tây Hiến. Có hai cặp liễn đối ”Giáng Long”, cặp đối có hình lòng máng, sơn son thếp vàng hình rồng được chạm uốn lượn mềm mại chen những lớp mây. Hai bên trung điện đặt dàn lỗ bộ.

Chính điện được dựng theo kiểu tứ tượng, các xà gồ bằng gỗ, vì kèo kẻ chuyền kết hợp với tường hồi chịu lực. Mái chính điện chỉ có một tầng, thấp hơn mái trung điện, không gian nơi đây bị hạn chế ánh sáng từ ngoài vào. Nơi thờ cúng thần linh ánh sáng cần tạo ra một cách mờ ảo cùng với khói nhang nghi ngút.

Trước chính điện là bàn thờ Hội đồng nội, có bài vị đặt trên ngai chạm đầu rồng đề ”Cung thỉnh Đại càn Quốc Gia Nam Hải Thần Chiêu Linh Ứng Tứ Vị Thánh Nương Vương” phía trước đặt bộ bát bửu. Cuối chánh điện là bàn thờ Thần, có bài vị chữ “Thần” và bốn bài vị khác. Khám thờ thần được sơn son thếp vàng, chạm lưỡng long chầu nguyệt, phía trong chạm theo đề “Đào mai — điểu”, hai trụ trước khám thờ theo đề tài “Giáng long”. Trước khám thờ thần là bàn thờ sơn son thếp vàng được chạm theo đề tài “Lưỡng long triều nguyệt”, hai bên đề tài “Mẫu đơn — trĩ”, bốn chân chạm đầu rồng, trên để bộ lư bằng đồng. Hai bên khám thờ thần là hai khám thờ Hữu ban và Tả ban cũng được chạm hoa văn cành lá cách điệu lưỡng long triều nguyệt, hai bên có cặp hạc gỗ đứng chầu và hai cặp tàn. Hai bên chánh điện đặt trống, mõ, chiêng, võng thờ, bạch mã. Ngoài ra còn 3 cặp câu đối đính vào các cột đình và 5 bức hoành, 1 cặp liễn 9 bàn thờ vuông bằng gỗ, ba mặt đều được chạm trổ tỉ mỉ, mỗi mặt là tác phẩm nghệ thuật, được chạm với kỷ thuật rất tinh xảo, mỗi đề tài có nét độc đáo riêng.

Bên trục phụ của đình có nhà Túc, nhà kho và nhà bếp, là dãy nhà ba gian hai chái song song với trục chính. Tại nhà Túc có ba bàn thờ: Tiền hiền Hậu hiền, Anh hùng liệt sĩ và Tiền vãn Hậu vãn.

5. Lễ hội:

Đình Bình Hòa thờ Thành hoàng Bổn cảnh. Thần thờ ở đình được vua tự Đức sắc phong vào năm 1853 (Tự Đức ngũ niên).

Vị thần được thờ tại đình gồm có:

1. Quản giới bổn xứ thành hoàng đại vương.

2. Kinh đô dục lộ thành hoàng đại vương.

3. Bổn xứ cao các Quảng độ.

4. Châu Du thành hoàng Đại vương.

5. Đại Càn Quốc gia nam Hải, chiêu linh ứng tứ vị thánh Nương Vương.

Hàng tháng đình cúng hai ngày 15 và 30. Lễ Kỳ yên ( cầu an ) là lễ lớn nhất tại đình thường tổ chức từ ngày 11 đến 13 tháng 9 âm lịch. Lễ vật chính là 3 con vật ( tam sanh ): dê — trâu — heo ( không có trâu có thể thay bằng bò). Trong những ngày Kỳ yên tại đình Bình Hòa diễn ra những nghi thức : Lễ rước sắc (đưa sắc về đình); Lễ thượng kỳ — khai môn; Lễ khán sắc; Lễ Túc yết; lễ đàn cả; Lễ tế Tiền hiền Hậu hiền; lễ xây chầu.

Hiện nay lễ Kỳ yên tại đình Bình Hòa được giản lược rất nhiều. Thời gian chính thức của lễ Kỳ yên chỉ diễn ra một ngày 11 tháng 9 âm lịch. Lễ vật chính cúng thần không nhất thiết phải là tam sanh như lệ xưa mà chỉ là mâm cỗ với nhiều món ăn. Chương trình lễ ngày nay gồm: Lễ Khai môn thượng kỳ; Lễ Khám sắc; Lễ tế Thành hoàng và lễ cầu an; Lễ cúng Tiền hiền Hậu hiền và các anh hùng liệt sĩ ; Các ban quản lý đình cùng nhân dân cúng thần; Lễ thành. (Buổi lễ bắt đầu từ 7 giờ và kết thúc lúc 14 giờ)

6. Giá trị di tích:

Đình Bình Hòa là ngôi đình có kết cấu và mặt bằng điển hình của ngôi đình cổ ở miền Nam thế kỷ 19. Bộ cột gỗ của ngôi đình hết sức quí giá cùng với 39 hiện vật có giá trị về mặt lịch sử và nghệ thuật còn lưu giữ trong đình. Đình đã duy trì sự thờ cúng theo phong tục thờ thần của người Việt nam. Sự tồn tại của đình là sự hiện diện của nền văn hóa truyền thống Việt Nam, là yếu tố tích cực của văn hóa làng xã được phát huy trong chế độ mới.


Số lượt người xem: 8413    
Xem theo ngày Xem theo ngày
  • Không tiêu đề
Tìm kiếm